Hiện nay bên hồ Tây vẫn còn đó một ngôi mộ đã 600 năm tuổi, ít ai để ý đó là nơi an nghỉ của Trạng nguyên Vũ Tuấn Chiêu với bài văn sách nổi tiếng hiến kế giúp cho binh mạnh và biện pháp khiến cho dân giàu. Sự nghiệp của ông cũng gắn liền với hình ảnh người vợ tần tảo lam lũ, không quản mưa gió với mong muốn được nhìn thấy chồng mình đỗ đạt.

Tuổi thơ đầy gian khó
Vũ Tuấn Chiêu (sinh năm 1426) người làng Xuân Lôi nay thuộc Nam Định, đỗ Trạng Nguyên vào năm 1475, khi đó ông đã ngoài 50 tuổi và là một trong 3 vị Trạng Nguyên già nhất.
Con đường khoa bảng của Vũ Tuân Chiêu rất gian nan. Năm ông 6 tuổi thì cha ông lâm bệnh rồi mất. Gia cảnh lâm vào cảnh túng thiếu, hai mẹ con ông về quê ngoại ở ngoại thành Thăng Long, sống nương nhờ sự đùm bọc của nhà ngoại. Cuộc sống cứ thế trôi qua suốt 10 năm trong khó khăn. Lúc Vũ Tuấn Chiêu 16 tuổi thì cũng là lúc mẹ ông qua đời. Ông quyết định trở lại làng Xuân Lôi, làm ăn sinh sống tại đây.
Người vợ tần tảo, không quản lam lũ tiếp sức cho chồng
Vợ của Vũ Tuấn Chiêu là bà Trần Thị Chìa. Bà không quản vất vả, chăm việc ruộng đồng, dệt vải kéo tơ, lại vừa nuôi chồng ăn học, mong có ngày ông vinh quy bái tổ.
Tuy Vũ Tuấn Chiêu mặt này khôi ngô nhưng học hành lại tối dạ. Mười mấy năm đèn sách, ngày ngày đều đến thầy, nhưng không mấy tiến bộ. Mặc dù vậy, ông vẫn kiên trì cố gắng, dù tuổi đã ngoài tứ tuần nhưng vẫn đến lớp học cùng đám hậu sinh tóc còn để chỏm. Biết chồng học kém nhưng bà Chìa vẫn kiên trì khuyên nhủ chồng chịu khó học hành và đưa thêm tiền chu cấp để ông yên tâm ăn học.
“Nước chảy đá mòn” – lời vợ nói khiến Vũ Tuấn Chiêu bừng tỉnh
Có lần bà Chìa gánh gạo đến xin gặp thầy giáo. Thầy nói muốn trả chồng bà về vì học kém quá, cứ như thế thì ở nhà cày ruộng còn hơn. Thầy giáo nói: “Trò Chiêu tuổi đã nhiều, học không tấn tới. Nay ta cho về giúp con việc nhà, việc đồng ruộng cho bớt bề vất vả”.
Bà Chìa xin hết lời, nhưng thầy giáo vẫn không thay đổi ý định. Bà đành chào thầy rồi cùng chồng thu xếp quần áo sách vở trở về nhà. Đến đầu làng, hai vợ chồng dừng chân nghỉ bên chiếc cầu đá bắc qua nhánh sông nhỏ. Vũ Tuấn Chiêu nhìn thấy mấy cây cột đá chân cầu bị mòn vẹt mới ngạc nhiên hỏi vợ. Bà Chìa đáp rằng: “Nước chảy lâu ngày đã làm mòn những cột đá của cây cầu! Chàng thấy đấy, cột đá là vật cứng rắn, dòng nước thì mềm nhưng qua năm tháng cứ chảy mãi lâu ngày khiến cho đá cũng phải mòn. Cho nên làm việc gì nếu có chí, sự kiên trì, nhẫn nại tất sẽ thành”.
Lời người vợ hiền khiến Vũ Tuấn Chiêu bừng tỉnh. Ông bảo vợ về nhà, còn mình mang quần áo sách vở trở lại để tiếp tục học. Ông gặp thầy giáo và thưa rằng: “Nước chảy đá mòn. Kính thưa thầy, việc học cũng như vậy. Nếu có chí học thì thế nào cũng sẽ khá lên. Nay con trở lại trường quyết tâm dùi mài kinh sử, mong một ngày được ghi tên trên bảng vàng, trước là khỏi phụ công ơn dạy dỗ của thầy, sau là đền đáp tấm lòng của vợ và cũng là để thỏa cái chí của con”.
Dù lời nói rất có khẩu khí, nhưng thầy giáo không còn tin tưởng vào người học trò đã rất lớn tuổi này rồi nên tìm cớ để đuổi học trò này về. Thầy nghĩ ra một vế đối là “Lác đác mưa sa làng Hạ Vũ”, sau một lúc suy nghĩ Tuấn Chiêu đối rằng: “Ầm ì sấm động đất Xuân Lôi”. Vế đối làm thầy đồ hài lòng, từ đó ông được ở lại tiếp tục dùi mài kinh sử, sức học cũng tiến dần lên. Trong 5 năm tiếp theo, bà Chìa tóc đã hoa râm, già theo năm tháng. Bà vẫn vừa lo việc ruộng vườn, chăm sóc con cái, lại đều đặn gồng gánh đem gạo, mang dầu thắp đèn và tiền bạc từ nhà đến nơi trọ học của chồng cho đến khi lâm bệnh mất. Năm đó Vũ Tuấn Chiêu đã gần 50 tuổi.
Đỗ Trạng Nguyên không phụ công người vợ hiền
Sau khi vợ mất ít lâu, Vũ Tuấn Chiêu một lần nữa cùng con trở lại quê ngoại của mình ở làng Nhật Thiên vì nơi đây gần kinh thành, tiện cho việc học hành và thi cử.
Khoa thi Ất Mùi (1475) đời Lê Thánh Tông, vượt qua kỳ thi Hội, ông lọt vào kỳ thi Đình. Tại kỳ thi này, vua Lê Thánh Tông hỏi về phương kế giúp cho binh mạnh và biện pháp khiến cho dân giàu.
Vũ Tuấn Chiêu đã làm bài văn sách của mình với kiến giải sâu sắc. Bài văn sách này vẫn được lưu lại trong cuốn gia phả của họ Vũ ở phường Nhật Tân, Hà Nội. Trong bài văn sách, Vũ Tuấn Chiêu cho rằng việc lớn nhất của người đứng đầu nhà nước là phải lo cho dân giàu nước mạnh.
Bài văn sách của Vũ Tuấn Chiêu là một trong 3 bài xuất sắc nhất kỳ thi năm đó, hai bài văn sách khác là của Cao Quýnh (người đỗ đầu thi Hội) và Ông Nghĩa Đạt. Điều này khiến nhà vua khó để chấm xem ai sẽ đỗ Trạng Nguyên.
Để thử tài 3 người, nhà vua bèn ra câu đố: “Thượng bất thượng/ Hạ bất hạ/ Chỉ nghi tại hạ/ Bất khả tại thượng” (Nghĩa là: Ở trên mà chẳng ở trên/ Ở dưới mà không ở dưới/ Chỉ có ở dưới/ Không thể ở trên). Rồi vua đố rằng đó là chữ gì. Trong khi Cao Quýnh và Ông Nghĩa Đạt đang suy nghĩ thì Vũ Tuấn Chiêu đã đoán ra đó là chữ nhất (一). Vua Lê Thánh Tông liền chấm Vũ Tuấn Chiêu đỗ đầu (tức Trạng Nguyên), thứ nhì là Ông Nghĩa Đạt đậu Bảng Nhãn, danh hiệu Thám hoa thuộc về Cao Quýnh.
Sau khi ông mất, triều đình phong là “Tuấn lương Quang ý tôn thần”, sau gia tặng thêm làm “Dực bảo Trung hưng, Linh phù tôn thần”. Hiện nay nhà thờ chính của Vũ Tuấn Chiêu ở tỉnh Nam Định.
Lời bàn:
Người xưa nói về đạo nghĩa vợ chồng, người vợ khi lấy chồng phải “xuất giá tòng phu”, cùng chồng lập chí lớn để rạng danh Tổ tông dòng họ. Nhờ có sự kiên trì và lời khuyên nhủ, nhẫn nại của người vợ hiền mà thức tỉnh Vũ Tuấn Chiêu. Ông cũng ngày đêm dùi mài kinh sử và thầm hứa với người vợ hiền quyết tâm thi đậu đường công danh không để người vợ thất vọng.
Khi đậu Trạng nguyên, Vũ Tuấn Chiêu đã ngoài 50 tuổi và là một trong 3 vị Trạng Nguyên già nhất trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Vũ Tuấn Chiêu làm quan trải qua nhiều chức vụ. Sự nghiệp của ông có công lao to lớn của người vợ hiền tần tảo. Tuy bà không thể sống để chứng kiến ngày vinh quy bái tổ của chồng mình nhưng tấm lòng và sự hi sinh của bà vẫn sống cùng chồng và con cháu đời sau.
