Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) tên húy là Khâm, lên ngôi năm 20 tuổi (1278) con trưởng của của vua Trần Thánh Tông (Trần Hoảng), cháu đích tôn của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Trần Nhân Tông là vị Vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ca ngợi là vị vua anh hùng cứu nước. Thời gian Vua Trần Nhân Tông trị vì đất nước, Đại Việt đã trải qua những thử thách rất gay go và ác liệt.

Khi Nhà Nguyên ráo riết cho điều động binh mã để chuẩn bị sang xâm lược Đại Việt lần thứ ba thì sự an nguy của Tổ quốc đặt lên vai Vua Trần Nhân Tông những trách nhiệm lớn. Nhưng sau khi đã hiểu được chỗ thâm yếu của tôn chỉ Thiền là “Phật tại tâm, chứ không tìm đâu khác” dù là người “xuất gia hay tại gia” cũng không thể tự trói mình trong “trì giới và nhẫn nhục”.
Trần Nhân Tông càng thêm tự tin cùng Vua cha, với sự phò tá hết lòng của đội ngũ tướng lĩnh kiệt xuất, đứng đầu là Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, lãnh đạo quân dân cả nước đoàn kết một lòng, phát huy hơn nữa khí thế “Sát Thát” vốn đã được nêu cao từ cuộc kháng chiến lần trước, đánh tan 50 vạn quân Mông Nguyên vào mùa xuân năm 1288.
Sau thắng lợi huy hoàng đó, Trần Nhân Tông chủ trương “nới sức dân”, thúc đẩy khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, nhanh chóng xây dựng lại đất nước bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh.
Về ngoại giao, Trần Nhân Tông đã khéo léo đối ngoại với Chiêm Thành để rồi có được thêm cho đất nước hai châu là Quảng Nam Đà Nẵng kéo dài đến Quảng Trị và Huế ngày nay.
Bấy nhiêu công lao to lớn đã đưa Trần Nhân Tông lên một vị trí vẻ vang trong lịch sử dân tộc, được sử gia đánh giá là “bậc Vua hiền của nhà Trần”, “nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước”.
Mùa xuân năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, tức Trần Thuyên và lên làm Thượng hoàng như truyền thống của nhà Trần. Năm 1295, ông đã xuất gia ở Vũ Lâm (Hoa Lư, Ninh Bình ngày nay), rồi lại trở về kinh sư.
Cho đến mùa thu năm 1299, từ phủ Thiên Trường, Nhân Tông mới chính thức xuất gia, lên núi Yên Tử tu Phật và sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm mà ông là tổ thứ nhất. Từ đây, ông lấy pháp hiệu là Hương Vân đại đầu đà hoặc Trúc Lâm đại đầu đà. Người đương thời và đời sau tôn xưng ông là Điều Ngự Giác hoàng.
Lời bàn:
Phật Hoàng Trần Nhân Tông được sử sách ghi nhận vì công lao to lớn đối với đất nước quốc gia dân tộc, là vị Vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ca ngợi là vị Vua anh hùng cứu nước. Trần Nhân Tông tuy xuất gia nhưng vẫn nặng lòng lo nước, lo dân. Đối với ông, Phật giáo nói chung và dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử nói riêng phải luôn gắn liền với đời sống của đất nước, của dân tộc, không thể có sự cách biệt giữa đạo và đời. Ngay việc Trần Nhân Tông chọn Yên Tử làm nơi tu thiền cũng hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa. Yên Tử có cảnh vật vừa đẹp vừa thanh vắng, rất thích hợp cho việc tu thiền nên các vua Trần đã tìm đến núi Yên Tử. Nhưng theo nghiên cứu của Ngô Thì Nhậm thì Yên Tử còn là nơi có một vị trí quân sự quan trọng, là vọng gác tiền tiêu của Tổ quốc. Ngô Thì Nhậm viết:
“Mọi người thấy đức Điều Ngự là tổ thứ nhất khi ra ở chùa Hoa Yên (tức chùa Yên Tử) thì cho là Ngài xuất gia, nhưng có biết đâu đương lúc bấy giờ đức Tổ ta biết lấy thiên hạ làm của công. Xét thấy Yên Tử là một ngọn núi cao, phía Đông có thể nhòm mặt tỉnh Yên, tỉnh Quảng; phía Bắc có thể trông tới Lạng Sơn, Lạng Giang, nên mới dựng tự viện, thường qua lại xem chuyện động tĩnh, khiến cho quân giặc ở ngoài không thể gây những việc đáng lo ngại. Đó thực là Vô lượng lực Đại Thế Chí Bồ Tát vậy…”.
Xin trích dẫn Bài kệ Cư Trần Lạc Đạo của Phật Hoàng Trần Nhân Tông thay cho lời kết về một Vị Minh Quân hoàn thành trách nhiệm bổn phận với dân với nước rồi mới an nhiên làm một vị Phật của nước Việt Nam thể hiện rõ ràng sự giải thoát, giữa có và không, không chấp trước phân biệt giữa đạo và đời.
Cư trần lạc đạo phú
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.
