Lê Thánh Tông (1442-1497) là Vua thứ năm của nhà Hậu Lê. Ông được hậu thế đánh giá là vị Vua kiệt xuất. Chế độ phong kiến Đại Việt dưới thời trị vì của ông đạt đến đỉnh cao. Ngoài tư chất thông minh, tinh thần ham học, Vua Lê Thánh Tông còn rất cầu thị. Ông không ngại xin lỗi ngay cả bề tôi của mình.

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, có lần, Quốc Tử Giám Tế tửu Nguyễn Bá Ký dâng sớ trách vua làm văn chỉ chuộng lối học phù hoa, vô dụng mà không chú ý kinh, sử. Trái với lẽ thường, nhận được sớ, Vua Lê Thánh Tông không hề giận, trả lời rằng:
“Nếu ta chuộng văn hoa, không lấy gốc kinh, sử thì còn sách nào nữa? Ta tự xét mình, xét lời ngươi nói thì trong bốn chữ ‘phù hoa vô dụng’ kia, thực đã gồm cả lòng trung rồi. Thế mà ta lại làm văn mà biện lại, thì ta thực có lỗi. Lúc ấy, người đã kịp thời can ngăn, chẳng vì thế mà giữ ý”. Từ đó, Vua Lê Thánh Tông rất quý trọng tài đức Nguyễn Bá Ký.
Năm 1467, vùng Đông Bắc có loạn, tổng binh Lê Hối dẹp mãi không được. Triều đình sai Khuất Đả đem quân tương trợ nhưng cả hai đều bại trận. Khi pháp ti đem hai quan ra xét xử, quan Hình bộ thượng thư viện dẫn đến lệ bát nghị có ý tha bổng cho hai người này. Đô ngự sử Trần Xác cũng tán thành cho rằng: “Xưa nay chỉ có tội đại ác và phản nghịch là không được hưởng lệ bát nghị, chưa từng thấy quan phạm tội thường mà không cho hưởng lệ này“.
Sau khi biết tin, Vua dụ rằng: “Quân pháp chỉ có một chứ không có hai. Nói như lời của Xác chỉ là biện bác, mê hoặc người mà thôi, phải nên trị Xác về tội này mới được“. Nhưng chẳng bao lâu sau, nhận ra lỗi lầm của mình, Vua lại ra chỉ dụ: “Ta vu oan cho ngươi là kẻ biện bác để mê hoặc người, đó là ta lỡ lời. Nay, người có mưu kế gì hãy cứ nói với ta, ấy cũng như cơn mưa ngọt đến khi trời nắng hạn, như có con thuyền đến lúc ta cần qua sông. Người hãy kính nhớ lấy“.
Trần Xác là người cương trực, nắm luật lệ rất chắc. Ông đã dám nói những lời thẳng thắn, đúng với nhiệm vụ can gián nhà Vua của mình. Hành động nhận lỗi trước đại thần của Vua được đời sau đánh giá rất cao.
Tháng 1 năm Đinh Hợi (1467) vua Lê Thánh Tông ban chiếu đại xá thiên hạ, chiếu viết:
“Trẫm là kẻ không có đức, làm chủ muôn dân. Muốn cho mọi người đều giàu đủ, yên vui để tiến tới thịnh trị. Năm ngoái, từ mùa thu đến mùa đông, trời mãi không mưa, người mất hy vọng được mùa, dân lo khó khăn đói kém. Trẫm là cha mẹ dân, chỉ biết đau xót trong lòng. Nếu không ban ơn rộng khoan tha thì sao thấy huệ thực tới dân được?” (Đại Việt sử ký toàn thư)
Tháng 8 năm Tân Hợi (1491) trời mưa nhiều ngày gây ngập úng nặng, Lê Thánh Tông sai quan các địa phương chỉ huy việc khơi thông nước để cứu lúa mạ. Vua còn họp bàn với triều thần và nói với họ rằng: “Vì chính trị thiếu sót nên trời làm tai biến, đó là lỗi của trẫm mà thành ra thế, chứ nhân dân có tội gì đâu. Có phải vì trẫm đức tín chưa khắp đến dân, lòng thành chưa thấu đến trời mà đến thế chăng?”. Sau đó, ông cảnh cáo những việc làm không đúng phận sự, chức trách của các quan rằng: “Từ nay về sau, kẻ nào còn quen thói nhơ bẩn như cũ, theo người ta mà tiến lui, mưu giữ bền quyền vị thì trẫm vì các khanh mà giết đi. Hoặc kẻ nào theo lời dạy bảo mà bỏ lỗi đi trước, dốc lòng trung tín, hết sức hết trí, trẫm cũng vì các khanh mà hậu thưởng. Các khanh nên cố gắng đấy” (Đại Việt sử ký toàn thư)
Lời bàn:
Quan điểm của người xưa về việc làm quan, làm vua, cai trị dân chúng chính là gánh vác trọng trách chăm lo đời sống nhân dân, dẫn dắt, đưa người dân tới chỗ ngay thẳng, chính đáng. Thế nên tự người làm Vua, làm quan phải ngay chính, luôn tu sửa bản thân, dùng đức để cai trị thì mới mong dân chúng ôn hòa, ngay chính, Trời Đất yên ổn, thái hòa, không có thiên tai địch hoạ.
Tuy nhiên, Vua là “thiên tử”, đấng tối thượng, có quyền cao hơn hết thảy. Ta thường nghe chuyện quan lại xin lỗi nhà Vua chứ hiếm khi có chuyện Vua xin lỗi bề tôi. Thế nhưng, thực tế vẫn có những vị Vua sẵn sàng nhìn nhận sai lầm của mình, xin lỗi đại thần, bá tánh như Vua Lê Thánh Tông thì thật là xưa nay hiếm.
