Nghe đọc

Sau cuộc tấn công đánh bại quân Thanh xâm lược ở Thăng Long vào tết Kỷ Dậu 1789, Vua Quang Trung nhận được “đơn kiện” của người dân nơi đây về việc bia Văn Miếu bị đánh đổ ngổn ngang, thông qua một bài thơ:

 “Bia Tiến sĩ vô can vô tội

 Mà vạ lây vì nỗi cháy thành

 Bia thì đạp đổ tung hoành

 Nhà bia thì đốt tan tành ra tro

 Một nền văn hiến lâu dài

Tiếc thay chưa được đón Ngài ngự thăm”.

Sau khi đọc được tờ sớ, Vua Quang Trung không hề giận dữ những người đã lên tiếng chỉ trích mình, cũng không bắt tội người viết bài thơ. Ngược lại, Vua thẳng thắn nhận lỗi và phê rằng:                         

“Ta không trách nông phu 

Ta chỉ gờm thầy Nho 

Cả gan to mật, dám kêu Vua bằng Ngài!

Thầy Nho là ai?

Sắc cho Bộ hỏi, dân khai”.

Vua Quang Trung đã không hạch hỏi tiếp mà đi ngay vào điều cốt yếu cần giải quyết, cụ thể là cho ngay Thánh chỉ cùng châu khuyên (khoanh dấu son chuẩn thuận) vào tờ đơn Nôm đó:

“Thôi! Thôi! Thôi! Việc đã rồi 

Trăm điều hãy cứ trách bồi vào ta!

Nay mai dọn lại nước nhà

 Bia Nghè lại dựng trên tòa muôn gian

 Cơ đồ họ Trịnh đã tan?

 Chớ đổ Trịnh Khải mà oan muôn đời”.

Lời bàn:

Vua, quan xưa thường nhận mình là bậc cha mẹ của dân, với ý là phải chăm lo đời sống cho dân được no ấm, yêu thương dân chúng như con, chứ không phải chỉ là bậc bề trên có quyền sinh quyền sát, áp đặt vô lối. Thế nên tự trách mình, sửa mình, là điều đương nhiên phải làm của đấng quân Vương. Trong nghìn năm văn hiến của nước Nam, đã có rất nhiều những tấm gương như vậy. Cái khó khi ở trên vạn người là biết nhìn lại mình, chỉnh được mình thì mới chỉnh được người, cái khó đó nhưng chính lại là cái khôn. Hành động tự nhận lỗi, không trách người khác của Vua Quang Trung được các nhà sử học đánh giá cao, thể hiện cái tâm, tầm của bậc minh quân.