Vua Quan Phương Bắc Chịu Tài Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi

Nghe đọc

Mạc Đĩnh Chi (1272- 1346), người Chí Linh, nay là Hải Dương. Bẩm sinh ông tướng mạo xấu xí: người lùn, da đen, mồm rộng, mũi tẹt, trán dô… nhưng ông rất thông minh, ngay từ nhỏ đã nổi tiếng lanh lợi, thần đồng. Vì nhà nghèo, giống như Nguyễn Hiền thuở nhỏ, Đĩnh Chi không thể đến lớp cùng bè bạn mà chỉ đứng ngoài lớp học nghe thầy giảng bài.

Tướng mạo xấu xí, tài trí hơn người

Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu khoa thi của triều đình, chiếm học vị Trạng nguyên khi chỉ hơn 20 tuổi. Tương truyền, khi ông ra mắt Vua, Anh Tông thấy mặt mũi, thân hình ông xấu xí, không muốn cho đỗ Trạng. Ông liền làm bài phú “Ngọc tỉnh liên (Hoa sen trong giếng ngọc) để nói lên phẩm giá thanh cao của mình, dâng lên Vua. Anh Tông xem bài phú thấy rõ tài hoa, tư cách của ông nên cảm phục và cho đỗ Trạng nguyên, sau này làm đến chức Thượng thư. 

Vua quan phương Bắc chịu tài

Mạc Đĩnh Chi đã được Vua tin tưởng, giao cho đi sứ nước Nguyên hai lần (1308 và 1324) là hai lần Trạng nguyên họ Mạc thể hiện tài ứng đối trước vua quan “thiên triều”.

Tương truyền, có lần Mạc Đĩnh Chi dẫn đầu đoàn sứ bộ nước Đại Việt sang nhà Nguyên.

Tới kinh đô nhà Nguyên, để “nắn gân” quan trạng Đại Việt, Vua Nguyên đọc một vế đối: “Nhật: hỏa; vân: yên; bạch đàn thiêu tàn ngọc thỏ”. (Nghĩa là: Mặt trời (là) lửa, mây (là) khói; ban ngày đốt cháy vầng trăng).

Hiểu rõ dụng ý kẻ cả nước lớn và cả bóng gió đe dọa của Vua Nguyên, Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu ngay: “Nguyệt: cung; tinh: đạn; hoàng hôn xạ lạc kim ô”. (Nghĩa là: Trăng (là) cung, sao (là) đạn; chiều tối bắn rơi mặt trời).

Vế đối không những rất chỉnh về niêm luật mà còn tỏ rõ được khí phách của người dân nước Việt, không run sợ và sẵn sàng giáng trả lại kẻ thù. Vua tôi nhà Nguyên nhìn nhau, rồi Vua Nguyên đích thân hạ bút phong “Lưỡng quốc Trạng Nguyên“. 

Xé bức trướng của nhà Tể Tướng nước Nguyên

Chuyện rằng: Đĩnh Chi thấp bé, người Nguyên khinh ông. Một hôm, viên Tể tướng mời ông vào phủ, cho cùng ngồi. Lúc ấy, đang hồi tháng 5, tháng 6. Trong phủ có bức trướng mỏng thêu hình con chim sẻ vàng đậu cành trúc. Đĩnh Chi vờ ngỡ con chim sẻ thực, vội chạy đến bắt. Người Nguyên cười ồ, cho là người phương xa bỉ lậu. Đĩnh Chi kéo bức trướng xuống, xé đi. Mọi người đều lấy làm lạ, hỏi tại sao. 

Đĩnh Chi trả lời: “Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa hề thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay trong bức trướng của Tể tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Tể tướng thêu như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì Thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân”. Mọi người đều phục tài của ông.

Giai thoại về tài ứng đối của “Lưỡng quốc Trạng nguyên”

Trước khi về nước, Mạc Đĩnh Chi và sứ bộ vào triều yết kiến Vua Nguyên lần cuối. Vẫn muỗn thử tài quan trạng nước Việt, lần này Vua Nguyên không ra vế đối nữa mà hỏi những câu hỏi “mẹo”, đòi hỏi người trả lời phải ứng biến nhanh. Vua Nguyên hỏi: “Từ khi đến Yên Kinh, ngày nào nhà ngươi cũng cưỡi ngựa đi trên đường thăm phong cảnh. Thế ngươi có biết mỗi ngày có bao nhiêu người qua lại trên đường cái không?“. Câu hỏi thật là bất ngờ vì Vua không thử tài văn học mà muốn thử tài quan sát. Hàng ngày đi lại trên đường ở Kinh đô thì có biết bao nhiêu người, ai có công để ý mà đếm. Sau một lát suy nghĩ, Mạc Đĩnh Chi đã điềm tĩnh trả lời: “Muôn tâu Bệ hạ! Hàng ngày trên đường kinh đô chỉ có hai người đi lại“. “Nhà ngươi nói không đúng. Sao lại chỉ có hai người?”. Vua Nguyên lấy làm lạ bèn hỏi lại. Mạc Đĩnh Chi bèn thưa: “Muôn tâu Bệ hạ! Thần nói chỉ có hai người là rất đúng ạ. Vì hàng ngày, phàm những người qua lại trên đường thì chẳng vì “danh” cũng vì “lợi” mà thôi. Như vậy rõ ràng chỉ có hai người là cầu danh và cầu lợi”.

Tuy rất phục tài biện bác của Trạng song Vua Nguyên vẫn hỏi thêm một câu nữa: “Một cái thuyền, trên có chở ba người gồm Vua, thầy dạy và cha. Khi ra đến giữa sông thì bị sóng to gió lớn nên đã lật đắm. Khi ấy nhà ngươi ở trên bờ bơi ra cứu, nhưng chỉ có thể cứu được một người thôi. Như vậy thì nhà ngươi cứu ai?“. Câu hỏi này thật là oái oăm, xoay quanh sự ứng xử của con người với chữ “trung”, chữ “hiếu”, chữ “nghĩa” và chữ “nhân”. Nếu nói chỉ cứu Vua thì được chữ trung nhưng mắc tội bất hiếu với cha mẹ và mắc tội bất nghĩa với thầy. Nếu nói chỉ cứu thầy thì mắc tội bất trung với Vua và tội bất hiếu với cha. Nếu chỉ cứu cha thì mắc tội bất trung và bất nghĩa. Nếu nói không cứu ai cả thì tội bất nhân, bất trung, bất nghĩa, bất hiếu lại càng nặng. Đắn đo suy nghĩ một lúc, Mạc Đĩnh Chi trả lời: “Thần bơi ra giữa sông, chỉ cứu được một người nên gặp ai trước thì cứu ngay người đó, bất kể là Vua, thầy hay cha”. Vua quan nhà Nguyên đều phục trí thông minh và tài ứng đối của Trạng nguyên nước Đại Việt.

Lời bàn:

Mạc Đĩnh Chi với tài năng và đạo đức của mình, đã không hổ danh là một tân Trạng nguyên của Đại Việt với khí phách kiên cường, tinh thần tự tôn tự hào dân tộc và tài văn thơ, ứng đối mẫn tiệp trước các đại thần của triều Nguyên khiến cho vua quan triều Nguyên rất vị nể và thán phục, phong cho học vị Lưỡng quốc Trạng nguyên và được các sứ thần triều Nguyên ghi chép rất trân trọng vào Bộ chính sử quốc gia. Chính nhờ có sự giao tiếp trí tuệ và khôn khéo nên trong khoảng hơn trăm năm sau ngoại bang không nhòm ngó nước ta đồng thời tăng thêm thanh danh cho văn hiến nước nhà.

Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi làm quan dưới 3 triều vua đời Trần: Vua Trần Anh Tông, Vua Trần Minh Tông và Vua Trần Hiến Tông. Tuy làm quan nhưng Mạc Đĩnh Chi có tiếng là liêm khiết. Ông sống giản dị, lạc quan, mang hết tâm lực và trách nhiệm của mình để phục vụ đất nước. Năm 1339, Mạc Đĩnh Chi về trí sĩ được tặng phong tước hầu.

Hiện nay, đền Long Động thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương thờ Mạc Đĩnh Chi. Căn cứ vào giá trị lịch sử của khu di tích, năm 1992 Nhà nước ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Hàng năm, vào ngày 10 tháng 2 âm lịch các chi tộc họ Mạc từ mọi miền đất nước trở về thôn Long Động thăm đất cũ, bái yết Tổ tiên và dự hội với nhân dân địa phương để tưởng nhớ đến vị Lưỡng quốc Trạng nguyên trong lịch sử Việt Nam – Mạc Đĩnh Chi.