Trung tuần tháng 6/1945, Bác Hồ từ Pắc Bó về Tân Trào. Lán Nà Lừa nhỏ bé đơn sơ được dựng lên bên con suối Khuổng Pến để làm sở chỉ huy tối cao. Tại đây, Bác duyệt lại nội dung Hội nghị quân sự Bắc kỳ do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì tháng 4 năm 1945. Trung ương Đảng và Bác khẩn trương chuẩn bị cho Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Đại biểu Quốc dân. Lúc này, tình hình quốc tế có những chuyển biến nhanh, phát xít Đức – Ý – Nhật đang trên đà thất bại thảm hại. Liên Xô và các đồng minh đang thắng lớn.

Về Tân Trào được hai tháng, đầu tháng Bảy, Người ốm nặng, nằm ở lán Nà Lừa. Đồng chí Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp) đã giao cho Nguyễn Việt Cường điều trị cho Bác. Anh Cường là y tá của Việt Nam Giải phóng quân, trước đã học ở trường y tá thực hành Bắc Kỳ ở Hải Dương.
Y tá Cường mang túi thuốc theo đồng chí Văn lên thăm bệnh, điều trị cho Bác. Gọi là “túi thuốc” nhưng chỉ có ít thuốc mạo cảm và hai ống bơm tiêm. Thật quá nghèo nàn! Bác mệt lắm, hai mắt nhắm nghiền, tay chân duỗi thẳng, thở dồn dập, nằm trên tấm bạt cũ rải trên sàn lán. Y tá Cường cầm tay Người tìm mạch, thấy mạch đập loạn nhịp. Da dẻ Người tái xanh tái mét. Anh Cường rất lo không biết mình có được phép chữa bệnh cho Người hay không vì theo nguyên tắc đã được học, y tá không được ra chỉ lệnh chữa bệnh cho người bệnh. Song đây là ngoại lệ và lại do đồng chí Văn gọi đi. Y tá Cường đã xin ý kiến đồng chí Văn cho phép tiêm 2 ống “Huile Camphrée” (dầu long não) trộn với một ống Ether (Ê te), tiêm vào đùi của Bác. Nếu tiêm loại thuốc này cho người khác, ai cũng kêu đau buốt, còn Bác thì không vì Người quá mệt.
Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể lại: “Đêm đó, trong lán Nà Lừa, lá tre xào xạc… Đôi mắt và má Bác thêm hõm sâu. Tôi rất lo. Bỗng Bác mở mắt nhìn tôi hỏi: “Chú chưa đi ngủ à?”. Tôi đáp: “Thưa Bác còn sớm. Bác thấy trong người thế nào ạ?”. Người không trả lời câu hỏi mà nói: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh lớn tới đâu, dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập…”.
Cũng sáng ngày 16 tháng 7 năm 1945, y tá Cường lại đến lán Nà Lừa tiêm cho Bác. Lạ thay, Cường đã thấy Bác ngồi làm việc bên chiếc máy chữ. Bác hỏi Cường:“Hôm qua chú tiêm thuốc gì cho tôi mà “độc” thế?”. Ý Người nói thuốc rất hiệu nghiệm. Ngày hôm sau, Cường lại lên tiêm tiếp cho Bác để đủ liều cắt cơn, song bác không cho tiêm vì khỏi rồi. Cường báo cáo đồng chí Văn và cùng đồng chí Văn lên gặp Bác xin cho tiêm thêm một mũi nữa, Bác mới đồng ý.
Tròn một tháng sau đó, khi phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh, Đại hội Quốc dân ở Tân Trào sắp họp. Bác lại ốm nặng hơn, nhưng được một lão nông người Tày bản địa chữa khỏi. Bác chủ trì hai hội nghị lớn: Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội quốc dân ở Tân Trào. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, tổng khởi nghĩa ở Hà Nội thắng lợi. Chỉ sáu ngày sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về Hà Nội. Chiều ngày 26 tháng 8 năm 1945, Người vào làm việc ở số nhà 48 phố Hàng Ngang, chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng rồi bắt đầu soạn thảo một văn kiện lịch sử quan trọng: “Bản Tuyên ngôn độc lập” để đọc tại quảng trường Ba Đình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời vì nước vì dân, ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân từ tuổi thanh xuân. Trải qua bao gian lao nguy hiểm, bị giam cầm, khi trở về Tổ quốc, tuổi cao sức yếu, bệnh nặng nhưng Người vẫn lo lắng về vận mệnh của dân tộc khi thời cơ đến nhưng vẫn đầy chông gai. Vì độc lập của dân tộc, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Câu nói khẳng định đó của Người có sức mạnh vô song, động viên toàn dân chiến đấu và đã toàn thắng. Người là một Anh hùng giải phóng dân tộc – một Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam, xứng đáng là một Danh nhân văn hóa thế giới.
Chủ tich Hồ Chí Minh, người con ưu tú của Đảng, người chiến sĩ cách mạng trung kiên, một đời đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho nhân dân.
Những ngày đầu tháng 8 lịch sử, giữa lúc thời cơ giành lại chính quyền về tay nhân dân đã chín mùi thì Bác lâm bệnh nặng. Trên giường bệnh, Người vẫn luôn nắm thông tin quốc tế từng giờ, chỉ đạo và cỗ vũ phong trào đấu tranh trong nước, giành lại chính quyền về tay nhân dân. Câu nói của Bác như hồi trống thúc giục, để Đảng và nhân dân ta, dân tộc ta quyết tâm đứng lên đấu tranh mạnh mẽ: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh lớn tới đâu, dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập…”
Đây là câu nói khiến chúng ta cảm động. Bởi gần một thế kỷ, đất nước chúng ta phải sống trong cảnh nước mất nhà tan, nhân dân ta sống trong lầm than nô lệ. Lời nói của Bác chính là tiếng gọi của non sông, tiếng nói của lòng yêu nước nồng nàn, của sự khát khao hòa bình đến cháy bỏng. Cách mạng tháng Tám thành công có ý nghĩa đặc biệt khi đã lật đổ chế độ phong kiến, đập tan xiềng xích áp bức của chế độ thực dân, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
