Khoa thi Hương Nghệ An, năm Thành Thái thứ 12 (1900) có một thí sinh râu tóc bạc phơ, đó là Đoàn Tử Quang. Thí sinh này đã 82 tuổi vẫn đi thi và đậu cử nhân, là một sự kiện hi hữu trong làng khoa bảng Việt Nam.
Chủ khảo kính phục thí sinh
Khoa thi Hương Nghệ An, năm Thành Thái thứ 12 (1900) có một thí sinh râu tóc bạc phơ, đó là Đoàn Tử Quang, sinh năm Mậu Dần, đời Gia Long thứ 17 (1818), người làng Phụng Đạt, xã Phụng Công, huyện Hương Sơn (nay là xã Đức Hòa và Đức Lạc, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Tính tuổi, thí sinh này đã 82.

Chánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn, Tự Đức thứ 33, năm 1880 và Phó chủ khảo là Tham tán nội các Mai Đắc Đôn cùng các quan trường thấy người học trò tuổi ngoài 80 mà vẫn đi thi thì lấy làm lạ, chưa hiểu gia thế người này ra sao, vì lẽ gì tuổi cao là vậy mà vẫn theo đuổi con đường cử nghiệp, nhưng đều tỏ lòng kính phục và lo lắng cho sức khỏe của ông.
Tìm hiểu mới hay Đoàn Tử Quang là con thứ hai ông Đoàn Nhuyện (biệt hiệu Liệt Giang cư sĩ) và bà Lê Thị Nậm. Ông Nhuyện mất khi bà Nậm mới tuổi 20, nhưng bà thủ tiết thờ chồng, nuôi con khôn lớn học hành, không chịu đi bước nữa và được vua ban biển “tiết hạnh khả phong”.
Từ nhỏ, Đoàn Tử Quang được mẹ dạy bảo, khuyến khích học hành, theo đuổi khoa cử để lập công danh thi thố với đời. Ông sáng dạ, học giỏi nhưng thi mãi chỉ đỗ hai khóa tú tài, một khoá ở tuổi 49 và khóa thứ hai ở tuổi 66.
Đi thi thay con
Cụ Đoàn Tử Quang không định đi thi, vì tuổi quá cao, nhưng do khoa ấy làng Phụng Công không có thí sinh nào dự. Các vị chức sắc của làng không muốn làng mình lép vế với các làng bên nên cố động viên cụ Đoàn đi thi. Năm ấy vợ cụ mới mất, các con trai cụ đều học rất giỏi nhưng không được dự thi vì phải theo luật “đoạn tang”.
Mẹ ông Đoàn đã 98 tuổi, vẫn áy náy trong lòng là con cháu mình học hành đến nơi đến chốn mà chưa ai đỗ đạt cho rạng mặt cha ông. Nay vì tang gia, chịu bỏ lỡ một kì thi Hương thì thật đáng tiếc. Con cái phải để tang mẹ đã đành, còn chồng thì lễ giáo vẫn cho phép dự thi kia mà.
Sợ con mình buồn phiền, không còn lòng dạ nào để làm bài, bà bèn lựa lời khuyên nhủ ông Đoàn bớt sầu não, xếp việc riêng tư, thử đua tranh cùng thiên hạ phen nữa, may ra đỗ đạt mới thỏa lòng mong mỏi của bà bấy lâu, mà gia tông cũng được phần rạng rỡ. Họ hàng, làng xóm cũng xúm vào ủng hộ ý kiến của bà.
Đoàn Tử Quang vâng lời mẹ, thay hai con, quảy lều chõng đi thi. Khoa thi ấy cụ nổi lên như một “Ông Tiên giáng thế” với bộ râu tóc trắng toát và với phong thái ung dung, đĩnh đạc.
Quan Chánh chủ khảo vừa cầm tay ông cùng đi, ngỏ lời động viên khen ngợi, vừa dò la xem sức lực, khả năng của ông ra sao bèn hỏi:
– Mắt cụ có mờ không?
Ông Đoàn thành thực trả lời:
– Dạ, hơi mờ ạ!
– Chân cụ có mỏi không?
Ông Đoàn tự tin đáp, giọng sang sảng:
– Dạ, còn có thể đi bộ, chạy, quỳ, đứng lễ bái được ạ!
Ông lão mang ống quyển vào, xét số, hạ lều, xong ngồi ngay ngắn ở giữa chiếu của mình. Trời về chiều khi đã vài ba chục thí sinh nộp bài thì ông lão vai mang ống quyển, tay kéo xe lều chõng lọc cọc, cùng các thí sinh kẻ trước người sau ra về…
Vào phúc hạch, viên đề tuyển đưa danh sách thông báo ra ngoài. Tên ông lão có trong số đó. Đến khi đưa quyển vào phúc duyệt, không hề bài nào có chữ đậm nhạt không đúng kiểu hoặc bị nghiêng đổ. Sau khi khớp phách nên biết quyển bài của ông lão về tài năng, ưu; thơ phú, ưu; Văn sách, thứ; phúc hạch, trung bình.
Như vậy là ông cụ 82 tuổi làm bài thi không hề thua kém các sĩ tử trẻ tuổi, mà còn vượt xa rất nhiều nho sinh khác. Trường thi lúc đó có tới hơn 4000 người dự thi, nhưng chỉ lấy đậu có 30 cử nhân.
Lời bàn:
Người xưa có câu “thất thập cổ lai hy”, có nghĩa người sống 70 tuổi xưa nay hiếm. Vậy mà cụ Đoàn Tử Quang luôn luôn để lời dạy của mẹ trong tâm, 82 năm như một ngày, nếu có cơ hội là làm theo lời mẹ dạy, sống thêm một ngày báo hiếu cha mẹ thêm một ngày. Thật hiếm có trong lịch sử nước nhà, là tấm gương cho thế hệ noi theo.
Học giả Hoàng Xuân Hãn viết về thí sinh đặc biệt Đoàn Tử Quang, đăng trên báo Thanh Nghị năm 1944 như sau:
“Thấy tuổi già tưởng văn non mà thương, hóa ra những món tưởng non lại thành cứng; Thấy già tưởng chữ viết lòe nhòe xiên xẹo mà chính ra lại cứng cáp tốt tươi. Tưởng bênh cho may đậu tú tài mà lại tự mình sắp đậu giải nguyên. Tưởng tám mươi hai tuổi là già lắm, mà còn mẹ chín mươi tám tuổi. Chín mươi tám tuổi mà góa chồng từ thủa mười bảy. Tưởng lòa, lảng, yếu mà sáng tỏ, mạnh. Tưởng lấy phần cho cháu chắt mà chính lấy phần cho mẹ già. Tưởng vì công danh mà đeo đuổi khoa trường mà chính ra là muốn cho vui lòng mẹ”.
