Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Đào Sư Tích – Phụ Tử Đồng Khoa

Nghe đọc

Đào Sư Tích (1348 – 1396) xuất thân trong một dòng họ có truyền thống khoa bảng, là con trai Tiến sĩ Đào Toàn Bân, người làng Song Khê, huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, đi học ở Cổ Lễ lấy vợ và sinh sống ở đó.

Ông đỗ Tiến sĩ chính bảng, làm quan tới Lễ bộ Thượng thư, Tri thẩm hình viện sự, là một nhà giáo nổi tiếng, học trò có nhiều người thành đạt. Quốc tử giám Tư nghiệp Chu Văn An khen ông là “Đại sư vô nhị”.

Từ nhỏ Đào Sư Tích thông minh khác người, có tài ứng đối và năng khiếu thơ phú. Từ sự hiếu học cộng với lòng quyết tâm nên ở khoa thi Hương, ông đỗ thứ nhất (Hương nguyên). Vào thi Hội, thi Đình ông đều đỗ thứ nhất.

Một hiện tượng kỳ lạ hiếm có trong lịch sử khoa cử nước ta là trong khoa thi Giáp Dần niên hiệu Long Khánh đời vua Trần Duệ Tông (1374), cả ba người học trò của Đào Toàn Bân đều đỗ cao: Con trai Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên, hai học trò Lê Hiến Phủ đỗ Bảng nhãn, Lê Hiến Tứ đỗ Tiến sĩ. Bốn thày trò sau này đều làm quan Đồng triều.

Trong buổi lễ đăng khoa, biết Đào Toàn Bân đã dạy con và hai học trò đỗ đại khoa, vua Trần khen ông là “Phụ giáo tử đăng khoa” (Cha dạy con đỗ đạt) và tặng ông bốn chữ “Phụ tử đồng khoa” (Cha con cùng đỗ) kèm theo vế đối: Phụ đăng khoa, tử đăng khoa, phụ tử kế đăng khoa chi nghiệp (Cha đỗ, con đỗ, cha con nối nhau làm nên sự nghiệp học vấn đỗ đạt).

Vị trạng nguyên khiến vua Minh e sợ

Chuyến đi sứ này Đào Sư Tích đã thuyết phục nhà Minh bỏ và giảm nhẹ nhiều lệ cống nạp hàng năm, trong đó bỏ hẳn việc cống nạp tăng nhân, góp phần quan trọng kéo dài thời gian hòa hoãn cho Đại Việt.

Tài năng, trí tuệ của Đào Sư Tích khiến triều đình nhà Minh cũng phải e ngại. Trong dân gian còn lưu truyền lại một giai thoại về chuyến đi sứ cuối cùng và sự việc khiến ông qua đời. Khi thời hạn đi sứ sắp hết, vua Minh có hỏi Đào Sư Tích rằng: “Nếu Bắc đánh Nam thì ai thắng?”

Đào Sư Tích bèn ngâm hai câu thơ trả lời:

Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng

Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua.

Câu trả lời của Đào Sư Tích khiến các quan võ cười khoái trá nhưng vua Minh và các quan văn thì không thể cười được, bởi hai câu thơ này có đến năm chữ “thắng”, năm chữ “thua”. Ngụ ý nhà Minh tiến đánh Đại Việt thì 5 thắng 5 thua tức không thể thắng được.

Câu trả lời của Đào Sư Tích thể hiện được ý chí của nước Nam lại cũng không làm phật lòng vua Minh, giúp kéo dài thời gian hỏa hoãn giữa hai nước, có lợi cho Đại Việt.

Vua Minh lại hỏi tiếp: “Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên quyền, lòng dân ly tán. Tại sao ta không thắng?”

Đào Sư Tích cũng lại đáp bằng hai câu thơ: “Trần thực, Hồ hư, hư hư thực/ Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư”. Nghĩa là: “Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư, hư là hư thực/ Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư”.

Vua Minh ban cho cái chết

Biết không dễ gì khuất phục được một người giỏi như Đào Sư Tích, Vua Minh liền nghĩ cách phải triệt hạ ông. Vua trao cho vị quan chuyên tiếp đón Đào Sư Tích bốn phong thư và dặn rằng phải mở theo thứ tự.

Viên quan này mở phong thư thứ nhất thấy có câu “thượng văn vấn, hạ tri vương” nhưng không hiểu ý là gì bèn hỏi Đào Sư Tích.

Đào Sư Tích trả lời rằng: “Văn là nghe, nghe là tri, tri là nhĩ (). Vấn là hỏi, hỏi là khẩu (). Bên dưới có chữ vương (). Hợp ba chữ: nhĩ, khẩu, vương thành chữ thánh (). Vua Minh có ý bảo ta là Thánh nhân đó mà. Vua Minh quá khen, cho ta là bậc Thánh hiền. Ta đâu dám nhận lời khen đó”. Sau đó vị quan mở phong thư thứ 2, đây chính là đáp án giải nghĩa cho phong thư thứ nhất, đúng như những gì Đào Sư Tích đã giải nghĩa khiến viên quan kinh ngạc và thán phục. 

Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư Tích làm lưỡng quốc trạng nguyên, tức trạng nguyên của cả Trung Hoa lẫn Đại Việt.

Phong thư thứ tư có hai dòng chữ:

“Hậu hoạ

Nhất dược nhị đao”

Vị quan này hiểu rằng đây là mệnh lệnh phải giết Đào Sư Tích bằng đao hoặc độc dược nên ông rất buồn bã. Nhìn vẻ mặt của vị quan này, Đào Sư Tích đoán được sự việc liền an ủi rằng: “Thánh thì thoát tục. Ông chẳng nên quá buồn rầu. Chỉ xin cho được chết bằng thuốc độc để ông khỏi phải khổ tâm khi phải trực tiếp giết ta”.

Sau đó, Trạng nguyên Đào Sư Tích qua đời khi đi sứ xứ người. Thi hài ông được đưa về nước mai táng tại phủ Thiên Trường – Nam Định.

Lời bàn:

Trạng Nguyên Đào Sư Tích đi sứ, luôn luôn có một khí phách của người con với nhân cách đại diện cho dân tộc, dẫu biết hiểm nguy và có thể chết bất cứ lúc nào nhưng luôn bình thản và an nhiên. Cái chết của mình đổi lại sự bình an cho dân tộc, cái chết của mình đổi lại sự tận trung báo quốc, cho nên Lưỡng Quốc Trạng Quyên Đào Sư Tích vẫn động viên vị Quan nhận Thánh chỉ nước Trung Hoa giết mình một câu nói: “ Thánh thì thoát tục” hay muốn nhắn nhủ với Trung Hoa rằng nước Đại Việt có rất nhiều Thánh Nhân. Đó chính là sự Trung Quân Ái Quốc và là bài học cho con cháu muôn đời sau.

Sau khi mất, ông đã được người dân lập đền thờ tại nhiều nơi, hiện đền thờ Đào Sư Tích có ở Bắc Giang, Nam Định đều được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. 

Cuộc đời của Đào Sư Tích đã đi vào tâm thức dân gian, ca dao cũng như lời hát ru con của người dân nơi quê ông trong đó có những câu ngợi ca tài đức của ông:

“Bảy tuổi đắc phong thần đồng

Hữu tài thành chủ hàm công rõ rành.

Thi Hương, thi Hội, thi Đình,

Đứng đầu Đại Việt, anh minh sáng ngời…”