Nguyễn Trung Trực – Bao Giờ Người Tây Nhổ Hết Cỏ Nước Nam Mới Hết Người Nam Đánh Tây

Nghe đọc

Anh hùng Nguyễn Trung Trực lúc nhỏ tên là Nguyễn Văn Lịch, là con thứ năm của một gia đình chài lưới ở Xóm Nghề – xóm của những người chuyên nghề hạ bạc, ở Phú Tân, tỉnh Long An. Ông cũng có tên riêng là Chơn và về sau có tên là Trung Trực. Nguyễn Trung Trực từ nhỏ đã thích tập luyện võ nghệ và là con nhà chài lưới nên bơi như rái cá, thành thạo nghề sông nước.

Năm 1861, giặc Pháp tấn công đại đồn Kỳ Hòa, Nguyễn Trung Trực đã tham gia lực lượng nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của cụ Trương Định. Lúc này nghĩa quân Trương Định đóng tại Gò Công, Nguyễn Trung Trực làm quyền Sung quân binh đạo, chỉ huy một bộ phận nghĩa quân hoạt động ở vùng Tân An. Bấy giờ, giặc tuy thắng thế nhưng phong trào kháng Pháp vẫn mạnh. Do vậy giặc không dám đóng quân trên đất liền mà dùng tàu chiến làm phương tiện chiến đấu và là chỉ huy sở. Trên sông Vàm Cỏ Đông, giặc thả ba chiếc tiểu hạm. Trong đó, chiếc L’Espérance án ngữ vàm Nhựt Tảo như một đồn lưu động để kiểm soát trục giao thông đường thủy này. Trên bờ, giặc bố trí một đội lính mã tà đóng tại chợ Nhựt Tảo. Khi Nguyễn Trung Trực có ý định đánh tàu L’Espérance, ông Hồ Quang Chương cùng các con và dân chúng trong làng ủng hộ. Theo kế hoạch đã định, rạng sáng ngày tấn công, tức ngày 10/12/1861, một toán nghĩa quân làm kế nghi binh gióng trống dữ dội ở kinh Ông Hóng phía làng Bình Láng để nhử địch. Giặc mắc mưu nên dẫn một toán quân đến đó để tiểu trừ, bị phân tán lực lượng.

Trời vừa đứng bóng, lính trên bờ đang nghỉ trưa, lính dưới tàu thay phiên nhau gác. Lúc này có mấy chiếc ghe trần rề tới. Đàn ông mặc áo rộng khăn đen, đàn bà thì áo dài, nón cụ. Cảnh tượng cho thấy đây là một đám cưới lớn. Chiếc ghe đầu ghé sát mạn tàu. Một ông lão trình việc đi rước dâu, xin phép cho chú rể ra mắt và xin biếu quan vài chục hột gà, mấy nải chuối cau. Lễ vật bày ra trước mặt tay sếp Tây, bất thần chú rể – tức Nguyễn Trung Trực, rút ở lưng một cái búa to xán lên đầu hắn. Chú rể phụ rút dao hạ sát tên bồi, rồi hô lệnh giáp chiến. Tất cả người trong đoàn ghe cởi bỏ lễ phục, rút mác thông, mã tấu giấu dưới chiếu, nhảy lên tàu tiêu diệt bọn giặc. Giặc hốt hoảng túa ra, bị tiêu diệt chỉ còn năm bảy tên chạy được xuống xuồng nhỏ chạy trốn. Nghĩa quân phá mâm trầu, trút ché rượu, đèn chai, dầu rái, con cúi, hỏa mai ném lên tàu. Lửa phát đỏ cả trời. Dân làng Nhựt Tảo lấy rơm, giật cả mái lá lợp nhà ném xuống tàu. Chiếc L’Espérance bốc cháy dữ dội, nổ một tiếng long trời và từ từ chìm xuống đáy sông.

Sau trận đốt tàu giặc ở Nhựt Tảo, Nguyễn Trung Trực cùng với nghĩa quân đánh mấy trận nữa rồi rút về Hà Tiên. Ông xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hòn Chông để chờ thời cơ. Khi ấy, Hà Tiên và Rạch Giá đều đã bị giặc chiếm. Lực lượng nghĩa quân của ông ngoài Hòn Chông còn phân tán rải rác ở nhiều nơi khác: Tà Niên, Sân Chim, Thầy Quơn, Núi Sập, Phú Quốc… Một mặt, Nguyễn Trung Trực cho tập luyện binh sĩ, mặt khác tiến hành việc do thám địch.

Để truy nã Nguyễn Trung Trực, giặc đưa thêm một cánh quân khác từ Châu Đốc theo kinh Vĩnh Tế qua Hà Tiên. Nghĩa quân lui về Hòn Chông, rồi rút về cố thủ Phú Quốc. Về đến Phú Quốc, Nguyễn Trung Trực bắt tay ngay vào việc phòng thủ và chủ động đánh Pháp. Lúc này, vợ ông (dân chúng gọi là bà Tướng) bị bệnh nặng. Lương thực bị thiếu trầm trọng, nghĩa quân phải săn trâu rừng để ăn. Một mặt ông cho nghĩa quân mặc áo đỏ, đen, xanh khác nhau đi loanh quanh trên núi. Bọn giặc dùng ống nhòm nhìn thấy tưởng lực lượng nghĩa quân rất đông, không dám đổ bộ. Nhờ đó kéo dài thời gian để bố trí công cuộc phòng bị.

Giặc cho tàu chạy ngoài khơi nã đạn lên bờ để thị uy và chờ tập hợp lực lượng mới đổ bộ lên đảo. Quân ta phản kích làm địch thiệt hại nặng. Tuy nhiên, nghĩa quân càng ngày càng thiếu lương thực, thuốc, vũ khí trầm trọng. Vợ và con của ông Nguyễn chết vì bệnh. Về sau người dân trong vùng tìm được xác hai mẹ con bà Tướng để an táng chu đáo. Đến nay, hai ngôi mộ còn lưu dấu tích ở Cửa Cạn.

Giặc Pháp quyết bắt cho bằng được Nguyễn Trung Trực. Tên Việt gian Huỳnh Công Tấn giở thủ đoạn cố hữu: Bắt mẹ Nguyễn Trung Trực cùng một số dân lành vô tội làm áp lực để gọi ông ra hàng. Tình thế quá quẫn bách, ông Lâm Văn Ky quyết chết thay cho chủ tướng. Ông Lâm ra Rạch Giá, tự xưng là Nguyễn Trung Trực. Pháp bắt Lâm Văn Ky. Chúng ra sức dụ hàng, nhưng ông từ chối. Ông bị giặc hành quyết tại chợ Rạch Giá ngày 12 tháng 5 âm lịch (1/7/1868). Khi chém xong, giặc mới phát giác người bị chúng chém không phải là Nguyễn Trung Trực.

Để cứu dân, cứu mẹ và hơn hết là vận nước đang suy, một mình khó bề cứu nổi cơ đồ, ông Nguyễn lấy cái chết để đánh đổi người nhà. Giặc khuyến dụ nếu ông chịu thần phục thì sẽ được cử làm công sứ miền Tây. Chúng hẹn trong 7 ngày để ông suy nghĩ. Đến hẹn, ông Nguyễn mặc võ phục, đeo kiếm đến trước mặt kẻ thù. Ông rút kiếm chém xuống đất, chịu rơi đầu chứ không chịu hàng. Bọn giặc đưa Nguyễn Trung Trực xuống một thông báo hạm để chở ông về Sài Gòn. Suốt chặng đường dài một ngày đêm, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn cố khuyên ông nên theo Pháp để được an toàn và hưởng lợi lộc. Khi Tấn dụ Nguyễn Trung Trực nhận một chức lớn gì đó, ông khẳng khái đáp: “Tôi chỉ muốn làm một chức thôi: Chức gì mà tôi có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây”.

Viên thống soái Nam Kì lúc đó vừa dụ hàng, vừa hăm dọa. Ông trả lời: “Thưa Pháp soái, chúng tôi chắc rằng lúc nào ngài trừ cho hết cỏ trên mặt đất thì chừng đó ngài mới may ra trừ tiệt được những người ái quốc của xứ sở này”.

Bọn giặc biết không tài nào thuyết phục được ông Nguyễn, nên tuyên án tử hình ông và đưa ông về Rạch Giá để thi hành bản án nhằm răn đe, khủng bố tinh thần của những người yêu nước. Được tin dữ, đồng bào Tà Niên – một làng có nghề dệt chiếu nổi tiếng và là nơi có nhiều người tham gia nghĩa quân của ông Nguyễn, đã dệt gấp một số chiếu bông. Ngày 27/10/1868, thực dân Pháp chọn chỗ đất (nay là Bưu điện Rạch Giá) làm pháp trường xử tử ông Nguyễn. Sáng sớm, chỗ đất ấy đã được trải kín chiếu bông Tà Niên để cho ông Nguyễn đi. Nơi ông Nguyễn đứng thọ án, người dân trải một chiếc chiếu bông cực đẹp, chính giữa có dệt hồi văn chữ THỌ lớn. Ngụ ý tỏ rõ rằng ông Nguyễn chết, nhưng hùng khí của ông trường thọ với dân với nước!

Trước khi hy sinh, ông còn khẳng khái nhắc lại: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”. Để tỏ lòng biết ơn ông, hiện nay, nhân dân ta thờ cúng ông ở nhiều nơi, trong đó tiêu biểu là đền thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực tại Long An, đền thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá và đền thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực tại Gành Dầu Phú Quốc.

Lời bàn:

Thực dân pháp đô hộ khiến dân ta sống trong cảnh lầm than. Nhiều cuộc đấu tranh lớn nhỏ đã nổ ra khắp nơi, tuy lúc này Pháp chiếm ưu thế, nhưng phong trào kháng Pháp vẫn rất mạnh.  Nguyễn Trung Trực đã tham gia lực lượng nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của cụ Trương Định. Nguyễn Trung Trực là một người một người chỉ huy trẻ tuổi, thông minh, can đảm, chống nhau với Pháp ngót mười năm trời. Trong sự nghiệp kháng thực dân Pháp của ông có hai chiến công nổi bật, đó là trận Nhật Tảo và trận Đồn Kiên Giang. Hai trận đánh đã làm nên tên tuổi của Nguyễn Trung Trực, khiến cho kẻ thù khiếp sợ.Khát vọng độc lập tự do của Nguyễn Trung Trực cũng chính là khát vọng tự do của dân tộc. Lời nói của ông đối với những kẻ cướp nước chính là lời khẳng định ngàn năm không thay đổi: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”. Tuy sự nghiệp đấu tranh của ông còn dang dở, nhưng những gì ông làm đã tiếp thêm sức mạnh cho các phong trào đấu tranh giành độc lập sau này.