Thượng Thư Nguyễn Bá Lân Thất Hứa Với Cha

Nghe đọc

Nguyễn Bá Lân sinh năm Canh Thìn (1700) tại xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong (), trấn Sơn Tây xưa (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Thân sinh ông là Nguyễn Công Hoàn nổi tiếng một thời về văn chương, được xếp hàng thứ ba trong “tứ hổ” ở kinh thành Thăng Long xưa (nhất Quỳnh, nhị Nhan, tam Hoàn, tứ Tuấn). Ông Hoàn học giỏi, nhưng lại lận đận về đường khoa cử, không đỗ đạt gì, chỉ chuyên nghề dạy học.

Cha con là đồng môn

Sách “Đăng Khoa Lục Sưu Giảng” khi viết về hành trạng của tiến sĩ họ Nguyễn có ghi: “Người làng Cổ Đô, huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây” (thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội ngày nay). Tuy nhiên theo Phan Huy Chú thì nguyên quán của tông tộc nhà ông lại “ở làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, Bắc Ninh”.

Trong suốt đời làm quan của mình, Bá Lân kinh qua nhiều chức vụ khác nhau, được Đại Nam nhất thống chí khen ngợi là “làm quan thanh liêm, cẩn thận, ra trấn Cao Bằng vỗ về nhân dân, dẹp yên giặc cướp, tỏ rõ công lao, vào triều tham dự chính sự thì giữ đúng pháp luật, không hề a dua”. Còn bố của Nguyễn Bá Lân, trong “Lịch triều hiến chương loại chí” cho hay: “Bố ông là Nguyễn Công Hoàn có tiếng văn chương ở đời”, tính lại rất ư nghiêm khắc.

Thất hứa với cha

Thuở hàn vi, hai cha con Nguyễn Bá Lân trong nhà là cha con, nhưng ở khoản “sôi kinh nấu sử” lại là đồng môn, cùng nhau học chờ ngày thi đỗ làm quan. Thường ngày, hai cha con Bá Lân học cùng nhau. Ông Công Hoàn vốn tính nghiêm khắc nên khi học đêm, ông để cái dùi ở bên mình mà bảo Lân: “Con mà buồn ngủ thì cha sẽ đánh con, còn cha buồn ngủ thì con đánh cha”.

Rồi có lúc đang học, ông Hoàn buồn ngủ gà gật bên trang sách, Bá Lân chỉ dám nhẹ nhàng đánh thức cha dậy. Ông Hoàn tỉnh giấc, bực mình cầm dùi đánh con mà mắng: “Con chực làm hại cha sao mà không đánh?”.

Vốn nổi tiếng là người văn hay, chữ tốt, ông Hoàn hay tự hào với văn tài của bản thân, nên bảo Bá Lân: “Ta với con cùng làm văn rồi đưa Thầy đồ chấm. Văn bài cha hơn con thì con sẽ không được ăn cơm. Văn con hơn cha thì cha sẽ không được ăn cơm”.

Tự hào là vậy nhưng khi làm bài văn thì bài của Lân lại thường làm hay và đạt hơn bài của cha, ông Hoàn thường không được ăn cơm. Bá Lân biết vậy phải nói với thầy dạy chấm bài của cha cao hơn mình, lúc ấy ông Công Hoàn mới được ăn cơm. Nhưng vì bài Lân không đạt nên bị cha phạt không cho ăn. Người đời cũng vì những việc ấy mà khen Bá Lân bởi lòng hiếu với cha.

Đăng Khoa Lục Sưu Giảng” còn dẫn lại rằng: Có hôm hai cha con đi đò qua sông, ông Hoàn trông thấy đàn dê trên bờ, liền ra luôn bài phú có tiêu đề “Dịch đình thừa dương xa phú” (Bài phú vua cưỡi xe dê ra ngự dịch đình) và bảo con: “Nếu sang bờ bên kia, cha làm xong trước mà con chưa làm xong thì cha ném con xuống sông”.

Thách con là vậy nhưng khi thuyền gần sang đến bờ sông bên kia thì Lân đã làm xong bài phú trước cha. Ông Hoàn lúc ấy mới làm được một nửa, bèn bắt con phải ném mình xuống sông. Thương cha, Lân không nỡ. Ông Hoàn bực lắm, đánh con túi bụi rồi tự mình nhảy xuống sông. Bài phú ấy về sau người đời còn truyền tụng với tên gọi “Nhất độ giang thành chương phú” (Bài phú hoàn thành trên một chuyến đò ngang).

Nhờ có sự ganh đua học hành cùng tính nghiêm cẩn của cha, đến khoa thi tiến sĩ năm Tân Hợi (1731) thời vua Lê Dụ Tông, Bá Lân khi ấy 32 tuổi đỗ Hội nguyên. 

Con chấm rớt bài cha

Ông Công Hoàn dù đậu thủ khoa năm Giáp Thìn (1724), nhưng đó chỉ là Hương cống. Trong khi ấy Bá Lân năm Tân Hợi (1731) thi đỗ tiến sĩ, còn cha lại trượt. Khoa thi sau, ông Hoàn tiếp tục ứng thí, còn ông Lân được triều đình cử tham gia công việc chấm thi.

Trong khi đọc các quyển thi của thí sinh, ông Lân chấm qua cả quyển của cha mình. Bởi bài đã rọc phách nên Bá Lân không biết bài của cha, ông chấm trượt bài thi ấy. Sau ông Hoàn nhờ người quen lấy được bài thi ra, nhận thấy dấu đánh hỏng bài thi là chữ của con trai thì giận lắm. Ông liền để sẵn một cái chày giấu ở trong áo, rồi giả vờ hỏi Bá Lân:

– Văn cha viết có câu:

Lưu hành chi hóa tự Tây, Đông Nam Bắc vô tư bất bặc phục.

Triệu tạo chí cơ tự cảo, Mân Kỳ Phong hữu khai tất tiên.

Dịch là:

Phong hóa của vua Văn Vương lưu hành tự phương Tây, đến Đông, Nam, Bắc, không nơi nào là không quy phục.

Cơ nghiệp gây dựng của nhà Chu khởi tự đất Cảo, rồi đến Kỳ, Mân, Phong, là do ở nơi đó trước.

Không biết người nào chấm đánh hỏng của tao câu đó?”.

Bá Lân nghe cha đọc xong thì chột dạ, biết ngay là bài ấy mình đánh hỏng. Sợ cha mắng, lại tiện thể muốn chiều lòng cha nên đáp:

– Văn của phụ thân hay quá, không biết ai chấm nghiệt mà đánh hỏng như thế. Thật uổng!

Ông Hoàn nghe con nói xong, lại bực thêm vì tội giấu giếm, không dám nhận lỗi mới chìa luôn quyển thi của mình ra, giả vờ nói: “Không biết bút tích của ai đây?”.

Vừa nói xong, ông Hoàn cầm luôn chày đánh con. Tiến sĩ Bá Lân chỉ còn biết chạy để thoát đòn của cha. Tiến sĩ Bá Lân ân hận lắm vì không hiểu hết nghĩa bài làm của cha mà trót đánh hỏng, nhưng lòng kính trọng cha không bao giờ nguội. Như lời bài “Tử đạo” (Đạo làm con) của Lê Thánh Tông trong Hồng Đức quốc âm thi tập có câu:

Đạo cha đức mẹ chất tầy non,

Lấy thảo mà thờ ấy đạo con.

Nguyễn Bá Lân trọn đời mang hết tài năng và đức hạnh của mình ra giúp dân, giúp nước trên mọi cương vị, văn võ song toàn, văn hóa – giáo dục uyên bác. Nguyễn Bá Lân làm đến chức Thượng Thư Bộ Lễ. Năm 86 tuổi ông mất, linh cữu được rước về an táng ở quê nhà. Khi mất, ông được tặng chức Thái tể, tước Quận công.

Lời bàn:

Người xưa rất coi trọng chữ “Tín”. “Quân tử nhất ngôn tứ mã nan truy”, giữ chữ “Tín” phải như giữ con ngươi trong mắt của mình. Nhưng với Nguyễn Bá Lân, ông luôn thất hứa với cha. Không phải vì ông là người bội tín mà bởi ông là người con chí hiếu, không nỡ để cha đói, không nỡ đẩy cha xuống sông, cũng không nỡ làm cha phải suy nghĩ. Đó là bội tín nhưng nhưng cái bội tín này xuất phát từ tâm “Hiếu”, xuất phát từ tâm yêu thương, từ tâm sẵn sàng làm người bội tín với cha nhưng không để cha phải đói, phải nguy hiểm.  

Nguyễn Bá Lân trọn đời mang hết tài năng và đức hạnh của mình ra giúp dân, giúp nước trên mọi cương vị, văn võ song toàn, văn hóa – giáo dục uyên bác. Cho nên không lấy gì làm lạ khi thấy những danh nhân đương thời đều nói về ông với những lời trân trọng nhất. Phan Huy Chú nhận xét: “Khi bàn việc, ông giữ lòng trung thực, không che chở bênh vực ai, chúa khen là ngay thẳng dám nói“. Trong “Quốc sử quán” triều Nguyễn” về sau cũng viết: “Nguyễn Bá Lân… làm quan thanh liêm, cẩn thận, ra trấn Cao Bằng vỗ về nhân dân, dẹp yên giặc cướp, tỏ rõ công lao, vào triều tham dự chính sự thì giữ đúng pháp luật, không hề a dua…” (Đại Nam nhất thống chí).