Vua Lê Thái Tổ – Trả Lại Gươm Báu Cho Rùa Thần

Nghe đọc

Lê Thái Tổ (1385 -1433) sinh ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu, tức ngày 19/9/1385 và mất ngày 22 tháng 8 nhuận năm Quý Sửu, tức năm 1433, lúc 49 tuổi (tuổi âm). Ông là con trai thứ 3 của ông Lê Khoáng và bà Trịnh Thị Thương, người ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoá. Ngay từ khi còn trẻ, Lê Lợi đã tỏ ra là người thông minh, dũng lược, đức độ hơn người, dáng người hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai phải có nốt ruồi đỏ lớn, tiếng nói như chuông. Bậc thức giả biết ngay là người phi thường. Lớn lên, ông làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, ông chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nghiền ngẫm thao lược, tìm mời những người mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, hăng hái dấy nghĩa binh, mong trừ loạn lớn. Mùa xuân năm Mậu Tuất – 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú v.v… phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng lên đánh giặc cứu nước. Suốt 10 năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi.

Sách “Lam Sơn thực lục” của Nguyễn Trãi có chép:

Khi ấy, nhà vua cùng làm bạn keo sơn người ở trại Mục Sơn là Lê Thận. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma Viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi, Thận quăng chài suốt đêm, cá không bắt được con gì cả. Thận chỉ bắt được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ nhân ngày chết của cha mẹ, nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

– Mảnh sắt nào đây?

Thận nói:

 Đêm trước tôi quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên“, cùng chữ “Lợi“. Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài dũa thành hình. Nhà vua lạy trời khấn rằng:

 Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!

Nhà vuabèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn. Được quả ấn báu, lại có chữ “Thuận Thiên” (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ “Lợi”, nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra. 

Truyền thuyết này được đưa vào nội dung sách giáo khoa của Việt Nam và được viết tiếp đoạn sau, nói về việc Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu. Lê Lợi xông pha chém địch nhiều trận, đánh tới đâu thắng tới đó, cuối cùng đuổi quân Minh bỏ chạy về nước. Lê Lợi được tôn lên làm vua.

Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Tả Vọng. Nhận lệnh Long Quân, rùa nổi lên mặt nước. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm bên người tự nhiên động đậy.

Rùa tiến về thuyền vua và nói:

– Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!

Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay Hồ Hoàn Kiếm. 

Lời bàn:

Hình ảnh người anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi hoàn trả thanh kiếm báu sau khi giành lại độc lập cho đất nước cũng là hình tượng cho sự Tín nghĩa, có trước có sau – một đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Thanh Kiếm có khắc chữ “Thuận Thiên” có nghĩa là theo đạo trời, vậy thì đạo trời ở đây là gì? Đó chính là chính nghĩa, ân nghĩa, đạo nghĩa, là dùng đức hạnh để trị vì giáo hoá nhân dân, là “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Khi có chiến tranh thì phải dùng kiếm, khi hòa bình phải dùng nhân đức, phải “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” bằng đức hạnh của chính mình. Đó chính là “Thuận Thiên”.