Vua Lý Thái Tông tên là Lý Phật Mã, là con trai trưởng của vua Thái Tổ Lý Công Uẩn, lên ngôi khi ông 28 tuổi. Sau gáy ông có đến bảy cái nốt ruồi tụ lại như chòm sao Thất Tinh (Sao Bắc Đẩu).

Khuyên các em bỏ khí giới chịu tang cha
Nǎm Mậu Thìn (1028), Vua Lý Thái Tổ mất. Theo đúng di chiếu thì Đông cung Thái tử Lý Phật Mã được lên ngôi. Anh em trai trong gia đình Lý Công Uẩn cũng khá đông, và người nào cũng có tài vũ dũng. Vua Thái Tổ vừa mất chưa làm lễ tế táng, các hoàng tử Võ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chính Vương đã mang quân bản bộ đến vây thành để tranh ngôi của Thái tử. Họ quyết chờ khi Phật Mã xuất hiện thì cùng xông ra đánh úp, nếu thắng lợi thì tính đến việc chia quyền cho nhau.
Phật Mã biết âm mưu của mấy người em phản loạn ấy. Ông vội vàng tổ chức việc phòng giữ cung cấm, rồi cho gọi các tướng tá bộ hạ của mình vào bàn cách đối phó. Ông không muốn giữa lúc Vua cha từ trần, anh em một nhà lại quay ra xung đột, tranh giành quyền lực với nhau. Ông nói: “Ta lấy làm xấu hổ là Tiên Đế mới mất chưa quàn mà cốt nhục đã giết nhau. Há chẳng để cho muôn đời chê cười sao!”.
Ông cho người ra khuyên các em nên hạ khí giới, cùng vào chịu tang cha, thực hiện di chiếu, không nên gây bạo loạn. Nhưng ba vị vương tử kia nhất định không nghe. Lý Phật Mã vẫn kiên trì: “Ta muốn thuyết phục các vương cho họ tự ý rút quân thì họ sẽ không gây ra tội ác, chứ kéo quân ra giao chiến với nhau thì còn mặt mũi nào!”.
Thấy Lý Phật Mã cứ dùng dằng mà quân tướng của ba Hoàng tử kia thì đánh vào cung gấp lắm, các tướng cùng đứng lên, kiên quyết giục phải ra quân. Trước tình thế này, Lý Phật Mã không biết làm thế nào. Ông lắc đầu nói: “Ta chỉ đành vào làm lễ thành phục trước linh cữu của Tiên Đế thôi. Mọi việc làm thế nào do các tướng định liệu lấy.”
Ông vừa dứt lời thì một võ tướng đã rút gươm chạy như bay ra ngoài cung, xông thẳng vào chỗ Võ Đức Vương đang đứng. Lưỡi kiếm vung lên, đầu Võ Đức Vương đã rơi xuống. Bọn tướng sĩ của phe phản nghịch bỏ chạy tán loạn. Hai Hoàng tử kia là Đông Chính Vương và Dực Thánh Vương đều trốn được.
Phật Mã chính thức lên ngôi, lấy niên hiệu là Thiên Thành khi ông vừa tròn 28 tuổi. Thấy tình hình mưu phản vừa qua của các em, Lý Phật Mã nghĩ ngay đến việc phải có một hình thức thích hợp, một hiệu pháp tâm linh để ràng buộc mọi người, cố kết nhân âm. Và đây là việc làm đầu tiên của ông khi vừa lên ngôi báu. Ông cho dựng miếu thờ thần Đồng Cỏ (vị thần trống đồng ở núi Đan – Nê Thanh Hóa). Vua cho đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị đọc lời thề rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung. Ai bất hiếu, bất trung xin thần làm tội”. Các quan từ cửa đông đi vào, đến trước thần vị cùng uống máu ǎn thề. Từ đó thành lệ, hàng nǎm vào dịp đầu xuân, Vua quan các triều đại đều phải dự lễ thề này.
Nhà Vua thiên về nhân đạo
Lý Thái Tông thực sự là một ông Vua có một tấm lòng bao dung, nhân hậu đối với anh em, bạn bè và cả đối phương nữa.
Chùa Một Cột được xem là một niềm tự hào của kiến trúc Việt Nam, là một biểu tượng của những nét diệu kỳ đất Việt. Chùa Một Cột được xây dựng là do sáng kiến của Lý Thái Tông. Nhà vua kể rằng trong một giấc chiêm bao, ông thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt Vua lên tòa. Sau đó, Vua đã cho dựng cột đá, làm tòa sen đặt lên như đã thấy trong mộng.
Nhà vua trẻ Lý Thái Tông, dù ở ngôi cao, vẫn luôn luôn gắn bó với sản xuất, với lao động. Vào nǎm ông 38 tuổi, tháng 2, ông ngự ở cửa Bồ Hải cày ruộng tịch điền. Vua thân tế Thần Nông, tế xong tự cầm cày xuống ruộng. Các quan ta hữu có người can rằng: “Đó là công việc của nông phu. Bệ hạ cần gì làm thế!”. Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ noi theo!”.
Vào nǎm 1040, ông dạy cho cung nữ dệt được gấm vóc. Vua xuống chiếu phát hết gấm vóc của nước Tống ở trong kho ra để may áo ban cho các quan. Từ ngũ phẩm trở lên thì áo bào bằng gấm, từ cửu phẩm trở lên thì áo bào bằng vóc. Phát hết như vậy để trong kho không còn vải vóc ngoại quốc nữa, từ nay chuyên dùng vải của nước mình, không dùng gấm vóc của nước Tống nữa.
Vua Lý Thái Tông trị vì được 27 nǎm, đến nǎm Giáp Ngọ (1054) thì mất. Ông thọ 55 tuổi.
Lời bàn:
Nhiều lần dùng binh từ Nam chí Bắc nhưng Lý Thái Tông lại là vị Hoàng đế bao dung, nhân hậu. Hễ năm nào đói kém hoặc đi đánh giặc về, Vua lại giảm thuế cho dân trong 2-3 năm.
Muốn khuyên dân, khuyến khích dân, trước quý tộc phải làm gương. Muốn khắp thiên hạ dùng hàng nội, trước Hoàng đế phải làm gương. Muốn thiên hạ chăm làm việc canh nông cày cấy thì Hoàng đế phải làm gương.
Vua mà còn xuống cày ruộng thì ai dám nói việc làm nông nghiệp là thấp hèn. Hoàng Đế mà còn nói: “Trẫm không cày thì làm gì có gì nấu xôi”. Quan dân ai dám không coi trọng nghề và tri ân hạt lúa.
Cung nữ mà còn dệt vải thì thứ dân ai dám nói nghề dệt vải là thấp hèn. Đấng chí tôn mà còn mặc hàng lụa là trong nước sản xuất thì quan dân các hạng ai dám chê đó là mặt hàng không ra gì.
Vua Lý Thái Tông ít nói, ít để chí ở sự lập ngôn, chỉ lo lòng làm gương cho thiên hạ. Xem ra, gương ấy không phải chỉ sáng một đời cho quan dân một thời, mà cho nhiều thế hệ bởi giáo dục là phải làm gương, giáo dục là trên làm dưới noi theo.
